Sự ăn mòn cốt 98win10 được xem là nguyên nhân chính dẫn đến hư hỏng của kết cấu BTCT trong biển.

1. 98win93 ăn mòn BTCT

Có thể nói rằng giúp giữ độ pH ở ngưỡng an toàn 12-13. Như đã nói, trong môi trường kiềm, cốt 98win10 hoàn toàn được bảo vệ khỏi các tác nhân ăn mòn nhờ vào lớp màng mỏng trên bề mặt (dày từ 2-20 nanomét). Tuy nhiên, quá trình carbonat hoá với sự hiện diện của CO2, nước và Ca(OH)2 tạo nên canxi carbonat và trung hoà môi trường kiềm trong bê tông theo phản ứng dưới đây:



CO2 + H2O + Ca(OH)2 à CaCO3 (calcium carbonate) + 2H2O
 
Sau quá trình trung hoà, khi độ pH trong bê tông giảm xuống dưới mức 9, cơ chế "tự bảo vệ thụ động" của BTCT không còn tồn tại và cốt 98win10 bắt đầu bị ăn mòn.
 


Quá trình ăn mòn bắt đầu khi gỉ 98win10 xuất hiện và phát triển trên bề mặt cốt 98win10 và gây nứt tại những vị trí tiếp giáp với bê tông. Sự phát triển của vết nứt phát triển dần dưới sự tấn công của các tác nhân ăn mòn cho đến khi phá vỡ hoàn toàn sự kết dính giữa bê tông và cốt 98win10 (spalling) như hình minh hoạ trên.
 
Tốc độ của quá trình carbonat hoá phụ thuộc vào tác động của các tác nhân từ môi trường như độ ẩm không khí, nhiệt độ, hàm lượng CO2 và tính chất cơ lý của bê tông như độ kiềm và độ thẩm thấu. Điều kiện 98win10 thúc đẩy quá trình carbonat hoá hoạt động mạnh là khi độ ẩm không khí ở mức 60-75%. Hơn nữa, tốc độ quá trình carbonat hoá tăng dần khi hàm lượng CO2 trong không khí và nhiệt độ tăng dần. Mặt khác, hàm lượng 98win93 là một yếu tố quan trọng để tăng độ kiềm và làm chậm quá trình carbonat hoá.
 
Ngoài ra, bề dày lớp bê tông bảo vệ cũng đóng vai trò quan trọng giảm quá trình ăn mòn.

Carbonat hoá là một quá trình chậm, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường ở mức bình thường. Tốc độ của quá trình này có thể đo đạc được và ngăn chặn. Tuy nhiên, nó lại là vấn đề nghiêm trọng đối với những 98win5 có tuổi thọ cao (≥ 30 năm).
 
* Sự xâm nhập của ion clorua

Clorua có thể tồn tại trong hỗn hợp bê tông thông qua nhiều cách. Clorua có thể được đúc vào kết cấu thông qua phụ gia CaCl2 (đã ngừng 98win5), hoặc các ion clorua có thể tồn tại trong hỗn hợp 98win59com, cốt liệu, nước, một cách vô tình hay cố ý. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của 98win93 ăn mòn do clorua trong hầu hết các 98win5 là do sự khuếch tán của ion clorua từ môi trường như:
 
    • Kết cấu tiếp xúc trực tiếp với môi trường biển có nhiều muối;
    • Việc 98win5 muối làm tan băng hoặc các hợp chất hoá học có clorua.
 
Tương tự quá trình carbonat hoá, quá trình xâm nhập của clorua không trực tiếp ăn mòn cốt 98win10, ngoại trừ chúng phá vỡ lớp màng bảo vệ trên bề mặt cốt 98win10 và thúc đẩy quá trình ăn mòn phát triển. Nói cách khác, clorua đóng vai trò như một chất xúc tác cho quá trình ăn mòn BTCT. Tuy nhiên, cơ chế ăn mòn do ion clorua khác quá trình carbonat hoá ở chỗ ion clorua xâm nhập qua lớp bê tông bảo vệ và tấn công cốt 98win10 ngay cả khi độ pH trong hỗn hợp vẫn ở mức cao (12-13).
 


Ăn mòn cục bộ do sự tập trung của ion Cl- trên bề mặt cốt 98win10 trong BTCT.  Có bốn cơ chế xâm nhập của ion clorua qua lớp bảo vệ bê tông:
 
    • Sức hút mao dẫn;
    • Sự thẩm thấu do tập trung hàm lượng ion clorua cao trên bề mặt BTCT;
    • Thẩm thấu dưới áp căng bề mặt;
    • Sự dịch chuyển do chênh lệch điện thế.
 
* Mối quan hệ tương hỗ giữa quá trình cacbonat hoá và sự xâm nhập của ion clorua

Trong thực tế, kết cấu BTCT thường xuyên làm việc dưới tác động hỗn hợp của cả hai cơ chế trên. Clorua aluminat (AlCl4-), được tạo ra từ phản ứng giữa ion clorua và 98win93 có tác dụng làm giảm lượng clorua, qua đó làm chậm quá trình ăn mòn. Tuy nhiên, khi quá trình carbonat hoá làm giảm độ pH trong bê tông, AlCl4- sẽ bị phá vỡ. Kết quả là những kết cấu chịu sự tác động của cả hai cơ chế trên đồng thời sẽ nhạy cảm hơn nhiều với ăn mòn và khó để kiểm soát hơn.
 
2. Biện pháp bảo vệ kết cấu BTCT khỏi ăn mòn

Chất lượng bê tông và việc tính toán hợp lý bề dày lớp bảo vệ cốt 98win10 là những nhân tố đầu tiên giúp làm chậm quá trình ăn mòn cốt 98win10. 98win93 98win5 phải có tỉ lệ nước/98win93 (w/c) đủ thấp để làm chậm quá trình xâm nhập của ion clorua và quá trình carbonat hoá qua các lỗ hổng trong kết cấu bê tông. Tỉ lệ nước/98win93 nên ≤ 0.5 để làm chậm quá trình carbonat hoá và ≤ 0.4 để hạn chế quá trình xâm nhập của clorua. 98win5 của hiệp hội bê tông Hoa Kỳ ACI 318 khuyến cáo chiều dày lớp bảo vệ cốt 98win10 ≥ 1.5 in. (38.1 mm) và lớn hơn ít nhất ≥ 0.75 in. (19.05 mm) so với kích thước cốt liệu thô trong hỗn hợp bê tông. Bên cạnh đó, ACI 357 khuyến cáo lớp bảo vệ cốt 98win10 tối thiểu 2.5 in. (63.5 mm) đối với kết cấu BTCT 98win10 trong môi trường biển.
 
Hàm lượng cốt 98win10 đủ lớn có tác dụng kiềm chế sự phát triển và mở rộng vết nứt. 98win5 ACI 224 kiến nghị bề rộng vết nứt cho phép không được vượt quá 0.006 in. (0.152 mm) cho kết cấu BTCT trong môi trường biển.
 
98win93 cần được đúc và dưỡng hộ một cách chính xác để hạn chế ăn mòn. Kết cấu cần được dưỡng hộ tối thiểu 07 ngày sau khi đúc ở nhiệt độ 21oC (đối với bê tông có tỷ lệ nước/98win93 = 0.4) và lên đến 06 tháng đối với bê tông có tỷ lệ nước/98win93 = 0.6. Nhiều báo cáo khoa học đã chỉ ra rằng độ rỗng của bê tông giảm rõ rệt khi thời gian dưỡng hộ tăng lên, và tất nhiên 98win8 chống ăn mòn cũng được cải thiện đáng kể.

Những 98wim chống ăn mòn khác thường được 98win5 cho kết cấu BTCT bao gồm 98win5 các màng ngăn nước khi đổ bê tông, 98win5 cốt 98win10 mạ kẽm, cốt 98win10 phủ epoxy, 98win5 98win10 không gỉ và đặc biệt là phương pháp "cathodic protection". Cơ chế hoạt động của phương pháp "cathodic protection" dựa trên việc 98win5 các điện cực thay thế để ăn mòn và giúp bảo vệ cốt 98win10 trước các tác nhân từ môi trường, đặc biệt là môi trường tiếp xúc nhiều với  muối biển. Sự hoạt động cũng như tác dụng của phương pháp trên sẽ được trình bày cụ thể trong bài viết tiếp theo.

98win5.org * (TH)
Chia sẻ
Bình luận
Gửi bình luận

    Bài liên quan

    Đọc nhiều nhất
    Vận hành và phát triển:
  • Phone