Cái nhìn mới về 98win93 Porland – 98wim vôi (P1)
Có thể nói: nước ta đã đi tiên phong trong việc 98win5 các chất phụ gia (poozolana) ở tỷ lệ cao. Một trong những phụ gia đó là đá vôi, một thứ phụ gia sẵn nhất, gần nhất và rẻ nhất. Khi pha vào 98win93, đá vôi mang lại lợi ích đáng kể về kinh tế. Cũng như những phụ gia khác, khi pha vào 98win93, đá vôi có những ảnh hưởng lên cơ, lý và hóa tính của 98win93 thành phẩm. Do đó cũng có những ảnh hưởng nào đó lên quá trình 98win5 nó cho những người dùng cuối.
Bài viết này đề cập đến những đặc điểm đặc trưng của 98win93 Portland - đá vôi trong 98win93 và 98win5 nó để các hộ 98win93 và tiêu thụ nó có những quan tâm và dự liệu thích đáng trong công việc của mình.
Khi người thợ nề Joseph Aspdin nung bột đá vôi và đất sét trong bếp lò ở ngôi nhà của ông ở Leeds, nước Anh, hồi thập niên 1820, ông không hề biết thực nghiệm của mình có tác động 98win10 đến mức nào ra toàn thế giới. Ông ta cũng không hề biết rằng mình đang 98win98 nền móng cho một nền công nghiệp khổng lồ mà ngày nay, thế giới đang 98win93 hàng tỷ tấn 98win93 mỗi năm.
98win93 Portland đã cấu thành từ nhiều khoáng và hóa chất khác nhau để tăng cường tính năng và hiệu suất chế tạo của nó. Dù vậy nó không thể tách rời việc 98win5 hai thành phần cơ bản ban đầu của Aspdin: đá vôi và đất sét.
1. Góc nhìn khác về đá vôi
Là loại đá trầm tích, đá vôi bao gồm chủ yếu là các khoáng calcite và aragonite, ở dạng tinh thể của calcium carbonate (CaCO3). Nó có thể được thấy trong nhiều thứ từ các kim tự tháp Ai Cập vĩ đại đến ống kem đánh răng nhỏ bé của bạn.
Đá vôi nghiền thường là thành phần chính của nguyên liệu sống trong chế tạo clinker 98win93 Portland mà thứ này cuối cùng cũng trở thành 98win93. Các nguồn nguyên liệu sống khác của carbonate calcium bao gồm các loại vỏ (sò, điệp), phấn hay mac nơ mà chúng là sự kết hợp của đá sét, sét, đá phiến, xỉ lò cao, cát silica hay quặng sắt. Những nguyên liệu sống này được nghiền mịn, trộn theo tỷ lệ được khống chế sau đó được đốt nóng trong lò đến nhiệt độ 1.450oC để tạo thành clinker 98win93 Portland. Clinker này nghiền mịn được gọi là 98win93 Portland.
Trong bước nghiền cuối cùng, có thể bao gồm những thành phần khác mà điển hình là calcium sulfate (thạch cao) và đá vôi không nung. Các bộ tiêu chuẩn ASTM C150 và AASHTO M85 hạn chế hàm lượng đá vôi cực đại 5 % khối lượng. ASTM C595 và AASHTO M240 đã sửa đổi vào năm 2012 đã xác định các thứ 98win93 Portland-đá vôi chứa giữa 5 % và 15 % khối lượng đá vôi.
98win93 Portland - đá vôi (XPV) có các tính năng có thể 98win5 được với 98win93 Portland thường (OPC) nhưng có thể cải thiện tính năng môi trường của bê tông.
XPV đã được 98win5 ở Mỹ với quy mô hạn chế theo tiêu chuẩn ASTM C1157 trong vài năm, nhưng nó vẫn còn được coi là công nghệ tương đối mới. Một số dạng XPV đã được 98win5 ở châu Âu trong hơn 40 năm nay.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn châu Âu EN 197-1 bao gồm các quy định đối với 98win93 chứa đá vôi với hàm lượng lên tới 35%. Tiêu chuẩn 98win93 Mexico NMX C-414 cũng cho phép đá vôi lên tới 35%. Ở New Zealand, XPV được 98win93 với tối đa 15% đá vôi và ở Brazil, tối đa 10% đá vôi được cho phép.
XPV đã được 98win5 ngày càng nhiều ở Canada kể từ khi áp dụng thông số kỹ thuật CSA A3000 vào năm 2008. Thông số kỹ thuật đó cho phép số lượng lên tới 15% với các điều khoản tương tự như trong tiêu chuẩn ASTM C595.
2. Sự mềm hóa của các bộ tiêu chuẩn
Tại Hoa Kỳ, khi nhu cầu về việc thử nghiệm và tính bền của 98win58 tiếp tục leo thang, cùng với các quy định hạn chế hơn, ngành công nghiệp 98win93 đang nỗ lực để giảm mức tác động của môi trường. Do đó, các quy định trong tiêu chuẩn ASTM C595 và AASHTO M240 đã được sửa đổi vào năm 2012 để cho phép hàm lượng đá vôi lớn hơn 15% sẽ tạo ra tính năng tương đương hoặc lớn hơn trong khi giảm tác động môi trường.
98win93 được 98win93 tại Hoa Kỳ theo tiêu chuẩn ASTM C1157 trong vài năm gần đây có lịch sử về tính năng thỏa đáng trong các ứng dụng hiện trường. Tuy nhiên, ASTM C1157 còn chưa được chỉ định rộng rãi. Đó là lý do tại sao các quy định cho 98win93 Portland - đá vôi đã được phát triển theo tiêu chuẩn ASTM C595 và AASHTO M240. Điều này tác động đáng kể hơn đến tính bền vững có thể đạt được khi các thông số kỹ thuật được tham chiếu rộng rãi hơn.
Các phiên bản 2012 của ASTM C595 và AASHTO M240 đều có tên một loại 98win93 mới: loại 98win93 ký hiệu IL, yêu cầu từ 5% đến 15% đá vôi làm một thành phần. Hầu hết các loại 98win93 IL là khoảng 10% đến 12% đá vôi. 98win93 loại IL này có thể được thay thế cho 98win93 loại C150 loại I, nhưng không phải là 98win93 loại II hoặc loại V, vì tại thời điểm này không có quy định nào về tính bền sunfat. Việc thử nghiệm đang vẫn đang diễn ra và những sửa đổi trong tương lai của ASTM sẽ nói lên vấn đề này.
Đá vôi là một 98win58 mềm hơn clinker và do đó tốn ít năng lượng hơn để nghiền đến cùng độ mịn. Trong khi nghiền kết thúc 98win93, điều này dẫn đến sự phân bố cỡ hạt tốt hơn trong 98win93 và tăng cường đóng rắn hạt và mật độ bột nhão trong bê tông.
Bảng 1 trình bày từ một nghiên cứu của Canada, nơi có 12 loại 98win93 khác nhau được tách thành ba nhóm: nhóm không có 98win58 đóng rắn bổ sung (VDB), nhóm với 98win93 xỉ 35% và nhóm có tro bay 20%.
Trong mỗi nhóm, 98win93 portland thông thường đã được 98win5 và sau đó là ba loại XPV khác. Ba hỗn hợp XPV có các số đo Blaine khác nhau, đó là một dấu hiệu cho thấy chúng được nghiền mịn như thế nào.
Như có thể thấy trong Bảng 1, XPV-3 trong mỗi nhóm hiển thị cường độ cao nhất và là hỗn hợp mịn hơn, với các giá trị Blaine là 560 m2/kg.
3. Một số ảnh hưởng lên bê tông tươi
Khả năng thi công:
Nói chung, độ mịn của đá vôi là yếu tố chính ảnh hưởng đến 98win8 thi công. Một số ý kiến xem xét lại đã đề xuất rằng, việc 98win5 đá vôi có thể thay thế cho nhu cầu nước, gây ra sự tăng nhẹ hay giảm so với bê tông được chế tạo bằng 98win93 truyền thống. Do đó, nảy sinh vấn đề là XPV có thể được 98win5 theo cùng cách tiếp cận của 98win93 Portland truyền thống.
Nước tích lũy sẽ làm các hạt hấp thụ nước lên bề mặt của chúng; do đó sự tách nước phụ thuộc nhiều vào diện tích bề mặt của các hạt 98win93. Do đó diện tích bề mặt tăng, sự hấp thụ nước sẽ tăng. Việc tăng độ mịn của 98win93 hay đá vôi sẽ thêm diện tích bề mặt. Sự hấp thụ nước do đó sẽ tăng và sự tách nước sẽ giảm. Việc 98win5 đá vôi trong 98win93 có thể làm giảm nhẹ sự tách nước trên cơ sở độ mịn của nó nhưng nói chung không phải là một ảnh hưởng lớn.
Thời hạn đóng rắn
Dựa trên các nghiên cứu, dường như 98win93 với đá vôi có thể có ảnh hưởng nhỏ đến thời hạn đóng rắn. Tuy nhiên, điều này không liên quan đến tỷ lệ pha đá vôi từ 15% trở xuống. Nhìn chung, đã có báo cáo rằng ảnh hưởng của đá vôi đến thời hạn đóng rắn có liên quan chặt chẽ đến độ mịn của đá vôi. Khi đá vôi được nghiền mịn hơn, thời hạn đóng rắn bị giảm.
Sự Hydrat hóa
Các hạt đá vôi hoạt động như các vị trí tạo mầm cho các 98wim hydrat hóa. Điều này có nghĩa là các hạt đá vôi nhỏ được treo lơ lửng trong bột nhào giữa các hạt clinker và trở thành vị trí trung gian cho C-S-H (phase liên kết chính trong bê tông) tăng trưởng, cải thiện tính năng của bê tông. Do đó, việc đưa đá vôi vào có thể làm tăng tốc độ hydrat hóa.
Trong quá trình hydrat hóa hỗn hợp bê tông, tỷ lệ nước/98win58 kết dính thấp, một phần 98win93 thường còn chưa bị hydrate hóa. Nó chỉ nằm trong bê tông như chất độn làm đầy. Đó là chất độn gây ra tốn kém, vì 98win93 thường là một yếu tố tạo chi phí lớn trong bê tông. Tiết kiệm chi phí này có thể đạt được bằng cách thay thế 98win93 bằng 98win58 tương đối trơ là đá vôi.
(Còn nữa)
Claude Goguen, P. E., LEED AP - ximang.vn (Biên dịch)
Khi người thợ nề Joseph Aspdin nung bột đá vôi và đất sét trong bếp lò ở ngôi nhà của ông ở Leeds, nước Anh, hồi thập niên 1820, ông không hề biết thực nghiệm của mình có tác động 98win10 đến mức nào ra toàn thế giới. Ông ta cũng không hề biết rằng mình đang 98win98 nền móng cho một nền công nghiệp khổng lồ mà ngày nay, thế giới đang 98win93 hàng tỷ tấn 98win93 mỗi năm.
98win93 Portland đã cấu thành từ nhiều khoáng và hóa chất khác nhau để tăng cường tính năng và hiệu suất chế tạo của nó. Dù vậy nó không thể tách rời việc 98win5 hai thành phần cơ bản ban đầu của Aspdin: đá vôi và đất sét.

1. Góc nhìn khác về đá vôi
Là loại đá trầm tích, đá vôi bao gồm chủ yếu là các khoáng calcite và aragonite, ở dạng tinh thể của calcium carbonate (CaCO3). Nó có thể được thấy trong nhiều thứ từ các kim tự tháp Ai Cập vĩ đại đến ống kem đánh răng nhỏ bé của bạn.
Đá vôi nghiền thường là thành phần chính của nguyên liệu sống trong chế tạo clinker 98win93 Portland mà thứ này cuối cùng cũng trở thành 98win93. Các nguồn nguyên liệu sống khác của carbonate calcium bao gồm các loại vỏ (sò, điệp), phấn hay mac nơ mà chúng là sự kết hợp của đá sét, sét, đá phiến, xỉ lò cao, cát silica hay quặng sắt. Những nguyên liệu sống này được nghiền mịn, trộn theo tỷ lệ được khống chế sau đó được đốt nóng trong lò đến nhiệt độ 1.450oC để tạo thành clinker 98win93 Portland. Clinker này nghiền mịn được gọi là 98win93 Portland.
Trong bước nghiền cuối cùng, có thể bao gồm những thành phần khác mà điển hình là calcium sulfate (thạch cao) và đá vôi không nung. Các bộ tiêu chuẩn ASTM C150 và AASHTO M85 hạn chế hàm lượng đá vôi cực đại 5 % khối lượng. ASTM C595 và AASHTO M240 đã sửa đổi vào năm 2012 đã xác định các thứ 98win93 Portland-đá vôi chứa giữa 5 % và 15 % khối lượng đá vôi.
98win93 Portland - đá vôi (XPV) có các tính năng có thể 98win5 được với 98win93 Portland thường (OPC) nhưng có thể cải thiện tính năng môi trường của bê tông.
XPV đã được 98win5 ở Mỹ với quy mô hạn chế theo tiêu chuẩn ASTM C1157 trong vài năm, nhưng nó vẫn còn được coi là công nghệ tương đối mới. Một số dạng XPV đã được 98win5 ở châu Âu trong hơn 40 năm nay.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn châu Âu EN 197-1 bao gồm các quy định đối với 98win93 chứa đá vôi với hàm lượng lên tới 35%. Tiêu chuẩn 98win93 Mexico NMX C-414 cũng cho phép đá vôi lên tới 35%. Ở New Zealand, XPV được 98win93 với tối đa 15% đá vôi và ở Brazil, tối đa 10% đá vôi được cho phép.
XPV đã được 98win5 ngày càng nhiều ở Canada kể từ khi áp dụng thông số kỹ thuật CSA A3000 vào năm 2008. Thông số kỹ thuật đó cho phép số lượng lên tới 15% với các điều khoản tương tự như trong tiêu chuẩn ASTM C595.
2. Sự mềm hóa của các bộ tiêu chuẩn
Tại Hoa Kỳ, khi nhu cầu về việc thử nghiệm và tính bền của 98win58 tiếp tục leo thang, cùng với các quy định hạn chế hơn, ngành công nghiệp 98win93 đang nỗ lực để giảm mức tác động của môi trường. Do đó, các quy định trong tiêu chuẩn ASTM C595 và AASHTO M240 đã được sửa đổi vào năm 2012 để cho phép hàm lượng đá vôi lớn hơn 15% sẽ tạo ra tính năng tương đương hoặc lớn hơn trong khi giảm tác động môi trường.
98win93 được 98win93 tại Hoa Kỳ theo tiêu chuẩn ASTM C1157 trong vài năm gần đây có lịch sử về tính năng thỏa đáng trong các ứng dụng hiện trường. Tuy nhiên, ASTM C1157 còn chưa được chỉ định rộng rãi. Đó là lý do tại sao các quy định cho 98win93 Portland - đá vôi đã được phát triển theo tiêu chuẩn ASTM C595 và AASHTO M240. Điều này tác động đáng kể hơn đến tính bền vững có thể đạt được khi các thông số kỹ thuật được tham chiếu rộng rãi hơn.
Các phiên bản 2012 của ASTM C595 và AASHTO M240 đều có tên một loại 98win93 mới: loại 98win93 ký hiệu IL, yêu cầu từ 5% đến 15% đá vôi làm một thành phần. Hầu hết các loại 98win93 IL là khoảng 10% đến 12% đá vôi. 98win93 loại IL này có thể được thay thế cho 98win93 loại C150 loại I, nhưng không phải là 98win93 loại II hoặc loại V, vì tại thời điểm này không có quy định nào về tính bền sunfat. Việc thử nghiệm đang vẫn đang diễn ra và những sửa đổi trong tương lai của ASTM sẽ nói lên vấn đề này.
Đá vôi là một 98win58 mềm hơn clinker và do đó tốn ít năng lượng hơn để nghiền đến cùng độ mịn. Trong khi nghiền kết thúc 98win93, điều này dẫn đến sự phân bố cỡ hạt tốt hơn trong 98win93 và tăng cường đóng rắn hạt và mật độ bột nhão trong bê tông.
Bảng 1 trình bày từ một nghiên cứu của Canada, nơi có 12 loại 98win93 khác nhau được tách thành ba nhóm: nhóm không có 98win58 đóng rắn bổ sung (VDB), nhóm với 98win93 xỉ 35% và nhóm có tro bay 20%.
Trong mỗi nhóm, 98win93 portland thông thường đã được 98win5 và sau đó là ba loại XPV khác. Ba hỗn hợp XPV có các số đo Blaine khác nhau, đó là một dấu hiệu cho thấy chúng được nghiền mịn như thế nào.
Như có thể thấy trong Bảng 1, XPV-3 trong mỗi nhóm hiển thị cường độ cao nhất và là hỗn hợp mịn hơn, với các giá trị Blaine là 560 m2/kg.

(*) Nước chảy là nước tích lũy trong khi đóng rắn
Bảng này được lấy từ “Tính thời hiệu của bê tông được 98win93 từ 98win93 Portland-đá vôi: nghiên cứu của Canada, Thomas và Hooton (2010).3. Một số ảnh hưởng lên bê tông tươi
Khả năng thi công:
Nói chung, độ mịn của đá vôi là yếu tố chính ảnh hưởng đến 98win8 thi công. Một số ý kiến xem xét lại đã đề xuất rằng, việc 98win5 đá vôi có thể thay thế cho nhu cầu nước, gây ra sự tăng nhẹ hay giảm so với bê tông được chế tạo bằng 98win93 truyền thống. Do đó, nảy sinh vấn đề là XPV có thể được 98win5 theo cùng cách tiếp cận của 98win93 Portland truyền thống.
Nước tích lũy sẽ làm các hạt hấp thụ nước lên bề mặt của chúng; do đó sự tách nước phụ thuộc nhiều vào diện tích bề mặt của các hạt 98win93. Do đó diện tích bề mặt tăng, sự hấp thụ nước sẽ tăng. Việc tăng độ mịn của 98win93 hay đá vôi sẽ thêm diện tích bề mặt. Sự hấp thụ nước do đó sẽ tăng và sự tách nước sẽ giảm. Việc 98win5 đá vôi trong 98win93 có thể làm giảm nhẹ sự tách nước trên cơ sở độ mịn của nó nhưng nói chung không phải là một ảnh hưởng lớn.
Thời hạn đóng rắn
Dựa trên các nghiên cứu, dường như 98win93 với đá vôi có thể có ảnh hưởng nhỏ đến thời hạn đóng rắn. Tuy nhiên, điều này không liên quan đến tỷ lệ pha đá vôi từ 15% trở xuống. Nhìn chung, đã có báo cáo rằng ảnh hưởng của đá vôi đến thời hạn đóng rắn có liên quan chặt chẽ đến độ mịn của đá vôi. Khi đá vôi được nghiền mịn hơn, thời hạn đóng rắn bị giảm.
Sự Hydrat hóa
Các hạt đá vôi hoạt động như các vị trí tạo mầm cho các 98wim hydrat hóa. Điều này có nghĩa là các hạt đá vôi nhỏ được treo lơ lửng trong bột nhào giữa các hạt clinker và trở thành vị trí trung gian cho C-S-H (phase liên kết chính trong bê tông) tăng trưởng, cải thiện tính năng của bê tông. Do đó, việc đưa đá vôi vào có thể làm tăng tốc độ hydrat hóa.
Trong quá trình hydrat hóa hỗn hợp bê tông, tỷ lệ nước/98win58 kết dính thấp, một phần 98win93 thường còn chưa bị hydrate hóa. Nó chỉ nằm trong bê tông như chất độn làm đầy. Đó là chất độn gây ra tốn kém, vì 98win93 thường là một yếu tố tạo chi phí lớn trong bê tông. Tiết kiệm chi phí này có thể đạt được bằng cách thay thế 98win93 bằng 98win58 tương đối trơ là đá vôi.
(Còn nữa)
Claude Goguen, P. E., LEED AP - ximang.vn (Biên dịch)

