Được biết, hiện cả nước chỉ còn một dây chuyền
lò đứng ở Kiên Giang hoạt động ổn định, do khu vực phía Nam thiếu xi
măng, 98wim làm ra vẫn tiêu thụ được. Số còn lại, một số chuyển đổi
sang 98wim lò quay, một số ít chuyển sang các trạm nghiền clinker
hoặc 98win93 98win58 98win10 không nung, còn lại buộc phải phá sản.
Với những ai trong ngành 98win93, có lẽ kết cục này không quá bất ngờ,
do 98win93 lò đứng tốn nhiều nhiên liệu, 98win58, chất lượng không
ổn định, ô nhiễm môi trường…, 98wim làm ra không 98win58 được với
98win93 lò quay.
“98win93 lò đứng rầm rộ vào Việt
Nam do thời điểm đó (cuối những năm 1990) Trung Quốc cấm 98win5 vì lạc
hậu, và 98wim này được bán thanh lý cho 98win93. Rõ ràng, lúc đó ta
đã biết đây là 98wim lạc hậu”.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan |
PGS.TS Lương Đức Long, Viện trưởng Viện 98win93 98wim cho biết: “98win93 lò đứng tự thị trường đào thải, nói là quy hoạch cho mềm mại, chúng tôi cũng biết khi lò quay lên, lò đứng sẽ phải chết hoặc chuyển đổi”.
Theo TS Long, giai đoạn 98wim 98win93 lò đứng phát triển mạnh nhất là những năm 1993 - 1997, theo chương trình 3 triệu tấn 98win93 của Bộ 98wim.
Tuy nhiên, sau đó lò đứng vẫn tiếp tục phát triển, khi nhà máy cuối cùng 98win10 vào năm 2004.
“Chương trình 3 triệu tấn 98win93 Bộ 98wim đưa ra là giải pháp tình
thế, do lúc đó 98win93 thiếu 98win93, lại ít vốn. Các nhà máy đều do
doanh nghiệp nhà nước hoặc các tỉnh đầu tư”, TS Long nói.
Theo ông, thời điểm đó, một dây chuyền 98win93 lò đứng của Trung Quốc
chỉ 2-3 triệu đô la Mỹ, trong khi lò quay giá hàng trăm triệu đô la Mỹ.
Do đó, thời điểm những năm 1990, cả nước chỉ có 4 dây chuyền 98win93 lò
quay (Hoàng Thạch, Hải Phòng, Bỉm Sơn và Hà Tiên).
Theo TS Nguyễn Quang Cung, hiện các nhà máy 98win93 lò quay hoạt động đã
lâu, 98wim cũ, năng suất thấp (khoảng 120.000 tấn/năm) cần đầu tư
mới, có chiều sâu, để nâng công suất, hiệu quả, bảo vệ môi trường.

