Đặc tính vữa 98win10 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn thay thế một phần 98win93
Việc 98win93 98win93 tiêu hao một nguồn lớn tài nguyên, đồng thời thải ra môi trường một lượng lớn khí CO₂ gây hiệu ứng nhà kính. Trong khi đó, quá trình 98win93 thép cũng thải ra một lượng lớn xỉ lò cao, chúng cần được tái 98win5 để không gây ảnh hưởng đến môi trường. Nghiên cứu này 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn để thay thế 0, 15, 30, 45 và 60% 98win93 trong 98win93 vữa 98win98.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, độ co khô của vữa giảm đáng kể khi 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn Với hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn hợp lý (15% hoặc 30%) có thể cải thiện 98win8 chịu lực cũng như 98win8 chống lại sự xâm thực của các ion clo. Tất cả các mẫu vữa trong nghiên cứu này đều có cường độ chịu nén lớn hơn 80 MPa và mức độ thẩm thấu ion clo rất thấp (nhỏ hơn 1.000 Culông).
1. Đặt vấn đề
98win10 98win98 thường được dùng làm lớp bao phủ, bảo vệ bề mặt của kết cấu hoặc đóng vai trò như thành phần kết nối giữa 2 loại 98win58. Chính vì vậy, chất lượng vữa ảnh hưởng đến chất lượng của công trình, đặc biệt là đối vối các công trình, dự án quan trọng như nhà cao tầng và công trình ven biển yêu cầu vữa phải có cường độ cao và 98win8 chống ăn mòn hóa học. Trong khi đó, theo TCVN 4314:2003 [1], các loại vữa thông thường 98win5 trong các công trình dân dụng có yêu cầu cường độ trong khoảng 1,0 - 30 MPa. Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 80:2001 [2], các loại vữa 98win5 trong công trình thủy công có yêu cầu cường độ cao hơn, từ 7,4 MPa đến 59,9 MPa. Vì vậy, việc phát triển một loại vữa có cường độ nén trên 60 MPa là cần thiết, góp phần giảm kích thước cấu kiện cũng như tiết kiệm 98win58.
Trong những năm gần đây, bên cạnh sự phát triển về kinh tế, quá trình đô thị hóa ở 98win93 đang diễn ra nhanh chóng kéo theo nhu cầu về 98win58 98win98 cũng ngày càng tăng cao. Trong đó, 98win93 và thép là 2 loại 98win58 có nhu cầu được tiêu thụ lớn phục vụ ngành công nghiệp 98win98. Theo thống kê của Bộ Công thương năm 2019, cả nước xuất khẩu và tiêu thụ khoảng 68 triệu tấn 98win93 [3] và đạt 89,4 triệu tấn năm 2023. Tuy nhiên, để 98win93 một khối lượng 98win93 lốn như vậy đòi hỏi tiêu tốn một lượng lớn tài nguyên tương ứng và cũng thải ra một lượng lớn khí CO₂ gây hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu [4]. Mặt khác, để 98win93 ra thép, mỗi năm các nhà máy thép cũng thải ra một lượng lớn xỉ lò cao, là 98wim phụ trong quá trình luyện thép. Xỉ lò cao sau khi được nghiền mịn thì có thể 98win5 như là chất kết dính để thay thế một phần 98win93. Năm 2021, có khoảng 1,12 triệu tấn xỉ lò cao nghiền mịn được tạo ra từ các nhà máy 98win93 thép trên cả nước [5]. Việc 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn trong 98win93 98win58 98win98 đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới. Như 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn như một phần chất kết dính trong 98win93 bê tông thường [6-8], 98win93 vữa [9-11], 98win93 bê tông tự lèn [12], và bê tông bọt [13].
Đối vối việc 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn thay thế 98win93 trong 98win93 vữa, Yun và các cộng sự [9] đã nghiên cứu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn thay thế 20, 40 và 50% 98win93. Kết quả thực nghiệm cho thấy các mâu vữa vối 40% xỉ lò cao nghiền mịn cho cường độ chịu nén lốn nhất đạt 57,3 MPa và 69,7 MPa tại 28 và 56 ngày tuổi [9]. Một nghiên cứu khác đã 98win5 phương pháp kiềm kích hoạt trong 98win93 vữa vối sự kết hợp của xỉ lò cao nghiền mịn, tro bay và silica fume [10], cường độ chịu nén và chịu uốn của các mẫu vữa này lần lượt đạt trong khoảng 51 - 74 MPa và 6,6 - 9,8 MPa. Sự ảnh hưởng của nhiệt độ bão dưỡng lên các mẫu vữa 98win5 0 - 80% xỉ lò cao nghiền mịn thay thế 98win93 được nghiên cứu bởi Delhomme và các cộng sự [11]. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới tập trung chủ yếu vào các tính chất cơ học của vữa như cường độ chịu nén và chịu uốn, một số tính chất khác của vữa như độ co khô và độ bền trong môi trường xâm thực cần được nghiên cứu. Yun và các cộng sự [9] còn chỉ ra rằng, chất lượng của các mẫu vữa phụ thuộc vào tính chất và hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn được 98win5.
Việc 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn trong 98win93 98win58 98win98 ở 98win93 còn hạn chế [5]. Hơn nữa, chất lượng của xỉ lò cao phụ thuộc vào công nghệ 98win93 thép và chất lượng của bê tông hoặc vữa lại bị ảnh hưởng bởi chất lượng của xỉ lò cao nghiền mịn. Do vậy, đối với xỉ lò cao nghiền mịn tại 98win93, chúng ta cần thêm các nghiên cứu trước khi đưa chúng vào 98win5, đặc biệt là 98win8 chống lại các tác nhân hóa học trong môi trường xâm thực. Để tiết kiệm 98win58 và tái 98win5 chất thải rắn trong công nghiệp, nghiên cứu này 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn trong 98win93 vữa 98win98. Ảnh hưởng của hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn lên cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn, độ thẩm thấu ion clo và độ co khô được nghiên cứu. Độ đặc chắc của các mẫu vữa cũng được xem xét thông qua hình ảnh vi cấu trúc.
2. 98win93 và phương pháp nghiên cứu
2.1. 98win93


Các 98win58 98win5 bao gồm 98win93, silica fume, xỉ lò cao nghiền mịn, cát, nước và phụ gia hóa dẻo. Hình ảnh vi cấu trúc và các thành phần hóa học chính của các chất kết dính được thể hiện trong Hình 1 và Bảng 1. 98win93 loại PCB40 được cung cấp bởi Công ty 98win93 Nghi Sơn, trong khi xỉ lò cao nghiền mịn là loại S95 được 98win93 tại nhà máy Hòa Phát. Khối lượng riêng của 98win93, silica fume và xỉ lò cao nghiền mịn lần lượt là 3,12, 2,21 và 2,82 T/m³. Hình ảnh quan sát dưới kính hiển vi với độ phóng đại 1.500 lần cho thấy, silica fume (Hình 1b) và xỉ lò cao nghiền mịn (Hình 1c) có nhiều hạt nhỏ so với kích cỡ thông thường của 98win93 (Hình 1a). Trong khi các hạt xỉ lò cao nghiền mịn có kích cỡ chủ yếu nhỏ hơn 15 μm thì các hạt 98win93 có kích cỡ chủ yếu trong khoảng 6 - 60 μm. Theo Bảng 1, thành phần hóa học chính của silica fume chủ yếu là SiO2, trong khi thành phần hóa học chính của xỉ lò cao nghiền mịn là SiO2, Al2O3, Cao và MgO. Cũng theo Bảng 1, thành phần hóa học chính của 98win93 chủ yếu bao gồm: SiO2, Al2O3, Fe2O3, Cao và MgO. Tất cả các loại oxit này đều đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng thủy hóa và puzơlan hóa. Cát 98win5 trong nghiên cứu này được lấy từ sông Mã, có khối lượng riêng 2,63 T/m³ và chỉ 98win5 các hạt có đường kính trong khoảng từ 0,14 - 0,63 mm tương tự như nghiên cứu trước [14]. 98win98 hoá dẻo gốc Naphthalene Sulfonate được 98win5 để giảm hàm lượng nước và tăng độ linh động của vữa. Hàm lượng phụ gia hóa dẻo được dùng để điều chỉnh độ chảy xòe của các mẫu vữa trong phạm vi 180±20 mm. Đây là phạm vi độ chảy xòe điển hình theo yêu cầu kỹ thuật của TCVN 4314:2003 [1]. Nước trộn vữa là nước máy được cung cấp bởi hệ thống nước máy thành phố.
2.2. Thiết kế thành phần cấp phối

Các mẫu vữa trong nghiên cứu này được thiết kế với tỷ lệ nước/chất kết dính bằng 0,24. Hàm lượng silica fume và cát được dùng tương ứng với 20 % và 100 % tổng hàm lượng các chất kết dính. Lượng phụ gia hóa dẻo được dùng để kiểm soát độ chảy xòe trong khoảng 180±20 mm như đã nêu trên. Mẫu đối chứng được thiết kế với chất kết dính chỉ bao gồm 98win93 và silica fume. Sau đó lần lượt thay thế 15%, 30%, 45% và 60% 98win93 bởi xỉ lò cao nghiền mịn. Các mẫu được đặt tên là XLC với hai số tiếp theo thể hiện hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn thay thế 98win93.
2.3. Chuẩn bị mẫu và phương pháp thí nghiệm

Quá trình trộn mẫu được thực hiện tương tự như thí nghiệm của Cwirzen và các cộng sự [15]. Sau khi trộn được hỗn hợp vữa đồng nhất, tiến hành đúc các mẫu với các kích thước 40x40x160 mm, Ø100x200 mm và 25x25x285 mm. Trong đó, mẫu có kích thước 40x40x160 mm được 98win5 để kiểm tra cường độ chịu uốn và cường độ chịu nén theo TCVN 3121:2003 [16]. Sau khi kiểm tra cường độ chịu uốn, mẫu bị đứt thành 2 phần, lấy 2 nữa mẫu đó cho vào gá nén có tiết diện 40x40 mm để kiểm tra cường độ chịu nén. Mảnh vỡ trong thí nghiệm chịu nén được 98win5 làm mẫu quan sát hình ảnh vi cấu trúc dưới kính hiển vi điện tử quét có tên EVO18 được cung cấp bởi hãng ZEISS. Sử dụng mẫu hình trụ kích thước 0100 x50 mm được cắt từ mẫu Ø100x200 mm để đo độ thẩm thấu ion clo theo TCVN 9337:2012 [17]. Khả năng chống lại sự xâm nhập của ion clo được xác định thông qua tổng điện lượng truyền qua mẫu trong thời gian 6 giờ. Mẫu có kích thước 25x25x285 mm được 98win5 để xác định độ co khô theo TCVN 8824:2011 [18]. Hình 2a và 2b lần lượt minh họa thí nghiệm đo độ thẩm thấu ion Clo và chuẩn bị mẫu để đo độ co khô. Các thí nghiệm xác định cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn và độ co khô được xác định tại 3, 7, 14, 28 và 56 ngày tuổi, trong khi thí nghiệm xác định độ thẩm thấu ion Clo được xác định tại 28 và 56 ngày tuổi. Các giá trị được ghi trong bài viết này là giá trị trung bình của ít nhất 3 mẫu thử, riêng thí nghiệm cường độ chịu nén là 6 mẫu thử. Hình ảnh vi cấu trúc của các mẫu vữa được quan sát trên các mảnh vỡ trong thí nghiệm chịu nén tại 28 ngày tuổi với độ phóng đại 1.000 lần.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Hình ảnh vi cấu trúc

Hình ảnh vi cấu trúc của các mẫu vữa với các hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn khác nhau được thể hiện trên Hình 3. Nhìn chung, hình ảnh vi cấu trúc của các mẫu tương đối giống nhau, đều thể hiện sự đặc chắc về mặt cấu trúc. Điều này dự báo rằng các mẫu vữa sẽ có cường độ chịu nén và chịu uốn cao như trình bày ở các phần sau. Hình 3 cũng cho thấy, một số hạt silica fume (có dạng hình cầu) vẫn còn tồn tại tự do, chứng tỏ rằng không phải tất cả các hạt silica fume đều tham gia vào phản ứng thủy hóa. Có nghĩa là hàm lượng của xỉ lò cao nghiền mịn cũng ảnh hưởng ít nhiều đến phản ứng của silica fume trong vữa. Khi hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn 98win5 phù hợp, các hạt silica fume tham gia phản ứng hiệu quả, mẫu đạt cường độ cũng như 98win8 chống lại sự xâm thực của ion clo là tốt nhất. Ngược lại, nếu hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn dư thừa, một số hạt silica fume không tham gia phản ứng mà đóng vai trò như cốt liệu mịn sẽ ảnh hưởng đến độ đặc chắc của mẫu làm giảm cường độ và giảm 98win8 chống lại sự xâm nhập của ion clo. Quan sát trên Hình 3 cho thấy, mẫu XLC15 (98win5 xỉ lò cao nghiền mịn thay thế 15% 98win93) có ít hạt silica fume tự do nhất so với các mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn khác, do vậy cường độ cũng như 98win8 chống lại sự thẩm thấu ion Clo của nó là tốt nhất, điều này sẽ được chứng minh ở các phần tiếp theo.
3.2. Cường độ chịu nén

Cường độ chịu nén của các mẫu vữa được thể hiện trong Hình 4. Kết quả cho thấy, trước 7 ngày tuổi cường độ chịu nén của các mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn nhỏ hơn cường độ chịu nén của mẫu đối chứng (XLC00). Tuy nhiên, sau 7 ngày tuổi cường độ chịu nén của các mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn có xu hướng tăng lên rõ rệt. Tại 56 ngày tuổi, cường độ chịu nén của mẫu đối chứng là 98,1 MPa, cường độ nén của các mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn lần lượt là 109,6 MPa, 104 MPa, 89,7 MPa và 81,7 MPa tương ứng với hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn 15%, 30%, 45% và 60%. Điều đó có nghĩa là thay thế 15% hoặc 30% 98win93 bằng xỉ lò cao nghiền mịn làm tăng cường độ chịu nén của vữa. Hiện tượng cường độ chịu nén tăng chậm tại các ngày tuổi ban đầu và phát triển mạnh ở các ngày tuổi sau là do các phản ứng puzơlan hóa của xỉ lò cao nghiền mịn, chúng xảy ra chậm ở các ngày đầu và phát triển nhanh chóng ở các ngày tuổi về sau [19]. Cần lưu ý rằng, các hạt xỉ lò cao nghiền mịn có kích cỡ nhỏ vừa tham gia phản ứng puzơlan hóa vừa có tác dụng điền đầy [20-21], chính vì vậy khi được 98win5 với hàm lượng vừa phải chúng sẽ phát huy hết tác dụng và làm tăng cường độ chịu nén của vữa. Khi hàm lượng 98win5 vượt quá giá trị này, các hạt xỉ lò cao nghiền mịn dư thừa và không phát huy hết tác dụng của nó, dẫn đến cường độ chịu nén giảm. Trong nghiên cứu này, với hàm lượng từ 15 - 30% được cho là có thể phát huy tốt các tác dụng của xỉ lò cao nghiền mịn. Khi thay thế đến 60% 98win93 bởi xỉ lò cao nghiền mịn, cường độ chịu nén tại 56 ngày tuổi giảm xuống còn 81,7 MPa. Cường độ chịu nén của mẫu này ở 28 ngày tuổi đạt 75,7 MPa, lớn hơn nhiều so với cường độ chịu nén yêu cầu của vữa theo TCVN 4314-2003 [1] và 14TCN 80-2001 [2].
3.3. Cường độ chịu uốn

Biểu đồ phát triển cường độ chịu uốn của các mẫu vữa với các hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn khác nhau theo thời gian được thể hiện trong Hình 5. Tương tự như cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn của các mẫu vữa tăng theo thời gian. Các mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn có cường độ chịu uốn thấp hơn mẫu đối chứng tại các ngày tuổi 3 và 7. Tuy nhiên, sau 7 ngày tuổi, cường độ chịu uốn của các mẫu có xỉ lò cao nghiền mịn có xu hướng tăng rõ rệt, đặc biệt là các mẫu XLC15 và XLC30. Tại 56 ngày tuổi, cường độ chịu uốn của mẫu đối chứng đạt 15,7 MPa, các mẫu còn lại đạt 18,3 MPa, 17,1 MPa, 14 MPa, và 12,2 MPa tương ứng với hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn 15%, 30%, 45% và 60%. Có thể thấy cường độ chịu uốn của các mẫu 98win5 15% và 30% xỉ lò cao nghiền mịn cao hơn mẫu đối chứng, trong khi cường độ chịu uốn của mẫu 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn 45% và 60% thấp hơn mẫu đối chứng. Vì vậy, việc 98win5 15% hoặc 30% xỉ lò cao nghiền mịn được coi là hàm lượng thay thế 98win93 tối ưu về mặt cường độ.
3.4. Độ thẩm thấu ion clo

Độ thẩm thấu ion clo của các mẫu vữa được xác định thông qua tổng điện lượng truyền qua mẫu thí nghiệm trong thời gian 6 giờ, thí nghiệm được đo tại 28 và 56 ngày tuổi và được thể hiện trên Hình 6. Tại thời điểm 28 ngày, tổng điện lượng truyền qua các mẫu vữa dao động từ 353 - 557 Culong. Tuy nhiên, những giá trị này giảm đáng kể sau 56 ngày tuổi (từ 307 - 416 Culong). Hơn nữa, các mẫu có hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn 15% và 30% có tổng điện lượng truyền qua mẫu nhỏ hơn so với mẫu đối chứng, trong khi các mẫu có hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn 45% và 60% có tổng điện lượng truyền qua mẫu lớn hơn mẫu đối chứng. Khả năng chống lại sự xâm thực của ion Clo theo thời gian là do sự tiếp tục hình thành các 98wim thủy hóa và puzơlan hóa theo thời gian đóng rắn. Trong khi 98win8 chống lại sự xâm thực của ion Clo của các mẫu XLC15 và XLC30 được cho là do hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn trong các mẫu này gần với hàm lượng tối ưu, điều này giúp phát huy 98win8 tham gia phản ứng puzơlan hóa và 98win8 điền đầy của các hạt xỉ lò cao nghiền mịn [19-20], làm cho kết cấu của các mẫu vữa đặc chắc, cản trở sự xâm nhập của ion clo. Tất cả các mẫu trong nghiên cứu này đều có độ thẩm thấu ion clo nhỏ hơn 1.000 Culong, theo TCVN 9337:2012 [16] chúng có 98win8 chống lại sự xâm nhập ion clo rất tốt. Như vậy, việc 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn không những có thể làm tăng cường độ chịu nén và chịu uốn của vữa, mà còn tăng 98win8 chống lại sự ăn mòn hóa học.
3.5. Độ co khô

Hình 7 thể hiện độ co khô của các mẫu vữa được đo tại 3, 7, 14, 28 và 56 ngày tuổi. Có thể thấy dưới 7 ngày tuổi độ co khô của các mẫu đều phát triển nhanh, sau đó phát triển chậm dần và có xu hướng ổn định sau 56 ngày tuổi. Theo Wong và các cộng sự [22], độ co khô là do sự giảm thể tích của vữa chủ yếu gây ra khi lượng ẩm trong bê tông đông cứng thoát ra ngoài. Chính vị vậy, sự thay đổi này ngày càng giảm theo thời gian khi lượng nước thoát ra gần hết và các phản ứng của các chất kết dính cũng làm cho mẫu đặc chắc, ngăn sự thay đổi thể tích của mẫu. Hình 7 cũng cho thấy, khi tăng hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn thì độ co khô giảm. Hiện tượng này được giải thích là do các phản ứng puzơlan hóa tỏa ít nhiệt hơn các phản ứng thủy hóa, vì vậy độ co khô giảm [20]. Độ co khô của các mẫu vữa trong nghiên cứu này tương đương với độ co khô của các mẫu vữa trong nghiên cứu trước [3].
4. Kết luận
Từ kết quả thực nghiệm, một số kết luận chính được rút ra khi 98win5 XLCNM để thay thế một phần 98win93 trong 98win93 vữa 98win98 như sau:
- Sử dụng xỉ lò cao nghiền mịn góp phần làm giảm độ co khô của vữa, do các phản ứng puzơlan hóa của xỉ lò cao nghiền mịn tỏa ít nhiệt hơn phản ứng thủy hóa của 98win93.
- Khi 98win5 hàm lượng xỉ lò cao nghiền mịn hợp lý (15% - 30%) có thể cải thiện cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn và 98win8 chống lại sự xâm thực của ion clo. Điều này là do các phản ứng puzơlan hóa và tác dụng điền đầy của các hạt xỉ lò cao nghiền mịn.
- Tất cả các mâu vữa trong nghiên cứu này đều có cường độ chịu nén lớn hơn 80 MPa và 98win8 chống lại sự xâm thực ion clo rất tốt. Điều này chứng tỏ có thể 98win5 xỉ lò cao nghiền mịn trong 98win93 vữa 98win98 có chất lượng tốt, 98win5 được trong môi trường xâm thực.
Tài liệu tham khảo
[1] TCVN 4314:2003, 98win10 98win98 - Yêu cầu kỹ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệm, 2003.
[2] 14TCN 80:2001, 98win10 thủy công - Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2001.
[3] Ngo, S. H., Huynh, T. P., “Effect of lubricating paste content on the engineering properties and microstructure of green mortars designed by densified mixture design algorithm”, Materials Today: Proceedings, 65, pp. 1315-1320, 2022. https://doi.Org/10.1016/j.matpr.2022.04.251.
[4] cheah, c. B., Part, w. K., Ramli, M., “The hybridizations of coal fly ash and wood ash for the fabrication of low alkalinity geopolymer load bearing block cured at ambient temperature”, Construction and Building Materials, 88, pp. 41-55, 2015. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2015.04.020
[5] Ngo, s. H., Huynh, T. p., “Effect of paste content on long-term strength and durability performance of green mortars”, Journal of Science and Technology in Civil Engineering (STCE)- HUCE, 16, pp. 113-125, 2022. https://doi.org/10.31814/stce.huce(nuce)2022-16(l)-10
[6] Kumar, G., Mishra, s. s., “Effect of ggbfs on workability and strength of alkali-activated geopolymer concrete”, Civil Engineering Journal, 7(6), pp. 1036-1049, 2021. https://doi.org/10.28991/cej-2021-03091708.
[7] Shehata, N., Mohamed, o. A., Sayed, E. T., Abdelkareem, M. A., olabi, A. G., “Geopolymer concrete as green building materials: Recent applications, sustainable development and circular economy potentials”, Science of the Total Environment, 836, 155577, 2022. https://doi.Org/10.1016/j.scitotenv.2022.155577.
[8] Borrero, E. L. s., Farhangi, V., Jadidi, K., Karakouzian, M., “An experimental study on concrete’s durability and mechanical characteristics subjected to different curing regimes”, civil Engineering Journal, 7(4), pp. 676-689, (2021). https://doi.org/10.28991/cej-2021-03091681.
[9] Yun, c. M., Rahman, M. R., Phing, c. Y. w., chie, A. w. M., Bakri, M. K. B., “The curing times effect on the strength of ground granulated blast furnace slag (GGBFS) mortar”, Construction and Building Materials, 260, 120662, 2020. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2020.120622
[10] Aydin, s., “A ternary optimisation of mineral additives of alkali activated cement mortars”, Construction and Building Materials, 43, pp. 131-138, 2013. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2013.02.005
[11] Delhomme, F., Ambroise, J., Limam, A., “Effects of high temperatures on mortar specimens containing Portland cement and GGBFS”, Materials and structures, 45(11), pp. 1685-1692, 2012. https://doi.org/10.1617/sll527-012-9865-7
[12] Sahoo, K. K., Dhir, p. K., Behera, s. K., Biswal, D. R., “Influence of ground-granulated blast-furnace slag on the structural performance of selfcompacting concrete”, Practice Periodical on Structural Design and Construction, 27(3), 4022019, 2022. https://doi.org/10.1061/(ASCE)SC.1943-5576.0000697
[13] Jose, s. K., Soman, M., sheela Evangeline, Y., “Ecofriendly building blocks using foamed concrete with ground granulated blast furnace slag”, International Journal of Sustainable Engineering, 14(4), pp. 776-784, 2021. https://doi.org/10.1080/19397038.2020.1836064
[14] Peng, Y., Zhang, J., Liu, J., Ke, J., Wang, F., “Properties and microstructure of reactive powder concrete having a high content of phosphorous slag powder and silica fume”, Construction and Building Materials, 101, pp. 482487, 2015. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2015.10.046
[15] Cwirzen, A., Penttala, V., Vornanen, C., “Reactive powder-based concretes: Mechanical properties, durability and hybrid use with OPC”, Cement and Concrete Research, 38, pp. 1217-1226, 2008.
https://doi.Org/10.1016/j.cemconres.2008.03.013
[16] TCVN 3121:2003, 98win10 98win98 - Phương pháp thử, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2003.
[17] TCVN 9337:2012, Bê tông nặng -Xác định độ thẩm thấu ion Clo bằng phương pháp đo điện lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012.
[18] TCVN 8824:2011, 98win93 - Phương pháp xác định độ co khô của vữa, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2011.
[19] Nguyen, M. H., Nguyen, V. T., Huynh, T. p., Hwang, c. L., “Incorporating industrial by-products into cement-free binders: Effects on water absorption, porosity, and chloride penetration”, Construction and Building Materials, 304, 124675, 2021. https://doi.org/10.1016/j-conbuildmat.2021.124675
[20] Kou, S., Poon, C., Agrela, F., “Comparisons of natural and recycled aggregate concretes prepared with the addition of different mineral admixtures”, Cement and Concrete Composites, 33(8), pp. 788-795, 2011. https://doi.Org/10.1016/j.cemconcomp.2011.05.009.
[21] Yazici, H., Yardimci, M.Y., Yigiter, H., Aydin, S., Turkel, S., “Mechanical properties of reactive powder concrete containing high volumes of ground granulated blast furnace slag”, Cement and Concrete Composites, 32, pp. 639648, 2010. https://doi.Org/10.1016/j.cemconcomp.2010.07.005
[22] Wong, A. c. L., Childs, p. A., Berndt, R., Macken, T., Peng, G. D., Gowripalan, N., “Simultaneous measurement of shrinkage and temperature of reactive powder concrete at early-age using fibre Bragg grating sensors”, Cement and Concrete Composites, 29, pp. 490^97, 2007. https://doi.Org/10.1016/j.cemconcomp.2007.02.003
Nguồn: ximang.vn (TH/ TC 98win93 & Xây dựng)

