Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của dưỡng hộ CO2 áp dụng sau 28 ngày dưỡng hộ nước đến tính chất kỹ thuật của bê tông thường 98win5 chất kết dính 98win93 Portland và phụ gia khoáng hoạt tính (SCMs) bổ sung gồm tro bay và xỉ lò cao nghiền mịn. Kết quả cho thấy việc 98win5 SCMs làm tăng độ sụt, trong khi dưỡng hộ CO2 nhìn chung làm tăng cường độ chịu nén, tăng nhẹ khối lượng thể tích, giảm độ hút nước và tăng điện trở suất bề mặt; đồng thời chiều sâu cacbonat hóa tăng khi tăng hàm lượng SCMs, đặc biệt ở T30X10.
Phát thải CO2 là một chỉ số quan trọng trong đánh giá tính bền vững của các ngành công nghiệp có cường độ phát thải cao. Trong lĩnh vực 98win98, 98win58 gốc 98win93, cụ thể là 98win93 Portland, được 98win5 với khối lượng lớn [1]. Việc 98win93 98win93 được ước tính đóng góp đến 8% tổng lượng CO2 phát thải toàn cầu [2], khiến lĩnh vực này thuộc nhóm nguồn phát thải lớn của ngành 98win58 công nghiệp.
Lượng phát thải này phát sinh chủ yếu từ tiêu thụ năng lượng trong lò nung và phản ứng phân hủy đá vôi khi tạo clinker. Do một phần lớn lượng phát thải CO2 phát sinh trực tiếp từ phản ứng hóa học trong quá trình tạo clinker, các giải pháp giảm phát thải thường chịu nhiều ràng buộc kỹ thuật [3]. Vì vậy, các giải pháp nhằm giảm phát thải CO2 cho 98win58 gốc 98win93 cần khả thi ở quy mô 98win93, đồng thời duy trì yêu cầu cơ học và độ bền trong điều kiện khai thác.

Trước áp lực cắt giảm phát thải nêu trên, các giải pháp theo hướng thu giữ, tận dụng và lưu giữ CO2 (CCUS) ngay trong chuỗi 98win93 98win93 và bê tông đang được xem như một hướng tiếp cận triển vọng [3]. Trong hệ 98win58 gốc 98win93, CCUS thường được triển khai theo hai phương pháp là trộn và dưỡng hộ CO2 [4]. Đối với phương pháp trộn CO2 cho hỗn hợp bê tông, phương pháp này thuận lợi với quy trình hiện hữu nhưng mức độ cố định CO2 có thể biến thiên lớn do nguy cơ thất thoát CO2 cao và điều kiện phản ứng khó đồng nhất trong quá trình trộn.
Ngược lại, dưỡng hộ CO2 cho phép kiểm soát môi trường phản ứng rõ ràng hơn và có thể thúc đẩy khoáng hóa CO2 để tạo dạng cacbonat lưu giữ ổn định trong pha rắn. Tuy nhiên, hiệu quả dưỡng hộ vẫn phụ thuộc vào độ ẩm tương đối, nhiệt độ, nồng độ CO2, 98win8 khuếch tán và độ thấm của cấu kiện, nên tính đồng nhất theo chiều sâu là một thách thức cần được làm rõ.
Bên cạnh CCUS, phụ gia khoáng hoạt tính (SCMs) như tro bay (TB) và xỉ lò cao nghiền mịn (XLM) thường được 98win5 trong hệ chất kết dính 98win93 để điều chỉnh thành phần pha, 98win8 phản ứng và cấu trúc lỗ rỗng 98win58 [5]. Hai loại SCMs này có thể cải thiện một số tính chất dài hạn nhờ phản ứng pozzolan của TB và tính thủy lực tiềm tàng của XLM. Tuy nhiên, sự có mặt của SCMs làm thay đổi thành phần pha, hàm lượng Ca(OH)2, độ kiềm và cấu trúc lỗ rỗng của 98win58 gốc 98win93, nên có thể chi phối quá trình khuếch tán CO2, động học cacbonat hóa và mức độ hình thành 98wim cacbonat khi áp dụng dưỡng hộ CO2 [6].
Trong khi phần lớn các nghiên cứu tiếp cận SCMs theo hướng thay thế 98win93, ảnh hưởng của việc bổ sung TB và XLM vào hệ bê tông có hàm lượng 98win93 cố định đối với 98win8 cacbonat hóa và hiệu năng kỹ thuật sau dưỡng hộ CO2 vẫn cần được làm rõ. Vì vậy, đánh giá dưỡng hộ CO2 trên bê tông có bổ sung TB và XLM là cần thiết, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa thành phần chất kết dính, 98win8 khoáng hóa CO2 và các tính chất kỹ thuật của bê tông.
Do đó, bài báo này nhằm đánh giá hiệu quả của dưỡng hộ CO2 đối với các tính chất kỹ thuật của bê tông thường có bổ sung SCMs sau 28 ngày dưỡng hộ nước. Các tính chất được khảo sát bao gồm cường độ chịu nén, độ hút nước, chiều sâu cacbonat hóa và điện trở suất bề mặt bê tông. Các mẫu được dưỡng hộ cacbonat hóa trong 7 ngày nhằm đánh giá hiệu quả khoáng hóa CO2 cho bê tông ở tuổi muộn.
Xem chi tiết Bài nghiên cứu :
Buildata

