Nghiên cứu 98win93 vữa cường độ cao từ các nguồn 98win58 địa phương
Nghiên cứu này đánh giá 98win8 98win5 tro bay là chất thải rắn được lấy từ nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 tại Thanh Hóa trong 98win93 vữa cường độ cao. 5 mẫu vữa được thiết kế với tỷ lệ nước/chất kết dính bằng 0,16 và 98win5 tro bay thay thế 0%, 15%, 30%, 45% và 60% 98win93 theo khối lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 98win5 tro bay góp phần làm tăng độ chảy xòe, giảm khối lượng thể tích của vữa tươi, và giảm độ co ngót.
Các mẫu vữa trong nghiên cứu này có cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn lần lượt lớn hơn 54 MPa và 8,7 MPa, trong khi độ hút nước nhỏ hơn 4,5 %. Đặc biệt, việc 98win5 tro bay góp phần xử lý một phần chất thải rắn trong công nghiệp và giảm ô nhiễm môi trường.

1. Đặt vấn đề
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng ngày càng tăng, điều này dẫn đến nhu cầu 98win5 98win58 98win98 ngày càng lớn. Trong đó, các 98wim dựa trên phản ứng thủy hóa của 98win93 như bê tông và vữa vẫn là các 98win58 chính trong 98win98. Nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng, bê tông là 98win58 được tiêu thụ nhiều thứ 2 trên thế giới, chỉ sau tài nguyên nước [1]. Để đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ bê tông như trên, cần một lượng lớn 98win93 để làm chất kết dính.
Theo thống kê năm 2021, tổng lượng 98win93 98win93 trên toàn thế giới đạt 4,4 tỷ tấn [2] và giảm nhẹ còn 4,1 tỷ tấn vào năm 2023 [3] do những biến đổi về tình hình kinh tế và chính trị trên toàn thế giới. Lượng 98win93 98win93 ngày một tăng dẫn đến tình trạng suy kiệt các nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường ngày càng lớn, đặc biệt là tình trạng phát thải khí CO₂ trong quá trình 98win93 98win93 gây hiệu ứng nhà kính và làm cho trái đất ngày càng nóng lên. Do vậy, việc nghiên cứu các loại 98win58 thay thế 98win93 là rất cần thiết.
Ở một khía cạnh khác, nhu cầu tiêu thụ năng lượng phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ngày càng tăng, nhiều nhà máy nhiệt điện đã được 98win98 và đi vào vận hành. Theo thống kê của Bộ Công thương, hiện tại cả nước ta có khoảng 29 nhà máy nhiệt điện, các nhà máy này thải ra hàng chục triệu tấn tro, xỉ mỗi năm. Tính đến 98win8 2020, tổng khối lượng tro, xỉ tồn lưu tại bãi chứa của các nhà máy khoảng 47,65 triệu tấn và lượng tro, xỉ này vẫn không ngừng tăng lên [4]. Tại Thanh Hóa hiện nay có 2 nhà máy Nhiệt điện (Nghi Sơn 1 và Nghi Sơn 2) mỗi nhà máy một ngày thải ra khoảng hơn 1.700 tấn tro bay [5]. Lượng tro bay thải ra từ các nhà máy nhiệt điện đang tạo sức ép lên môi trường ngày càng lớn, nên việc tái 98win5 loại chất thải này được Nhà nước khuyến khích và toàn xã hội quan tâm. Vì thế, việc nghiên cứu 98win5 tro bay trong 98win93 98win58 98win98 đã được nhiều nhà khoa học thực hiện.
Các nghiên cứu trước cho thấy, 98win5 tro bay thay thế một phần 98win93 trong bê tông có thể nâng cao giá trị kinh tế, giảm ô nhiễm môi trường và đặc biệt là giảm lượng khí thải nhà kính do việc 98win93 98win93 gây ra [6-8]. Ngoài ra, khi 98win5 tro bay thay thế một phần 98win93 trong bê tông làm tăng tính công tác của hỗn hợp và nâng cao độ bền của bê tông [9-10]. Kết quả nghiên cứu trước cho thấy, cường độ chịu nén của bê tông tăng nhẹ khi thay thế 10% hoặc 20% 98win93 bởi tro bay, bên cạnh đó độ sụt của bê tông tăng và khối lượng đơn vị thể tích của bê tông giảm khi tăng hàm lượng tro bay [9]. Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng, 98win8 chống ăn mòn cốt thép của dầm, cũng như 98win8 chịu uốn và chịu biến dạng của dầm bê tông cốt thép tăng lên khi thay thế một phần 98win93 bởi tro bay [10]. Tro bay cũng được nghiên cứu để 98win93 gạch không nung [11-14] và vữa 98win98 [15-16]. Đối với vữa 98win98, các tính chất vật lý và cơ học của vữa phụ thuộc nhiều vào kích thước các hạt, thành phần hóa học cũng như hàm lượng tro bay 98win5 [15]. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học đã 98win5 thêm (5 - 30%) vôi hoặc (2 - 10%) silica fume để tăng hiệu quả 98win5 của tro bay trong chế tạo các mẫu vữa [16]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đều chỉ ra rằng các tính chất của vữa phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tro bay [17-18], mà chất lượng của tro bay lại phụ vào loại than và công nghệ đốt của nhà máy nhiệt điện [17]. Vì vậy đối với loại tro bay địa phương có nguồn gốc từ các nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn cũng cần được nghiên cứu trước khi đưa vào 98win5.
Với mong muốn hướng đến sự phát triển bền vững, 98win5 hiệu quả các nguồn tài nguyên, giảm hoặc tái 98win5 các chất thải rắn trong công nghiệp cũng như hạn chế lượng khí thải CO₂. Nghiên cứu này 98win5 các nguồn 98win58 địa phương sẵn có tại Thanh Hóa trong 98win93 vữa 98win98 cường độ cao, trong đó có việc tái sử dụng tro bay của nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 để thay thế một phần 98win93. Các 98win58 khác như 98win93 và cát được lấy tương ứng từ nhà máy 98win93 Nghi Sơn và các mỏ cát trên sông Mã tại Thanh Hóa. Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay thay thế 98win93 lên các tính chất vật lý và cơ học của vữa như độ lưu động, khối lượng thể tích vữa tươi, cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn và độ co khô được nghiên cứu.
2. 98win93 và phương pháp nghiên cứu
2.1. 98win93


Chất kết dính trong nghiên cứu này bao gồm 98win93 Nghi Sơn PCB40, silica fume và tro bay của nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1. Hình ảnh của các chất kết dính này được thể hiện như Hình 1. Tính chất vật lý và thành phần hóa học chính của chúng được thể hiện trong Bảng 1. Tro bay 98win5 trong nghiên cứu này là tro bay thô, lấy trực tiếp từ nhà máy về và chưa qua tuyển chọn, trong khi tro bay 98win5 trong các nghiên cứu trước đa phần đều là tro bay tuyển. Cát được lấy từ sông Mã có khối lượng riêng là 2.630 kg/m³, độ ẩm 3,5%, đường kính của các hạt cát từ 0,14 - 0,63 mm, độ hút nước 0,42%. Chú ý rằng, nghiên cứu này 98win5 cát có đường kính nhỏ để làm vữa trát, đồng thời các hạt cát nhỏ góp phần làm tăng cường độ chịu nén của vữa tương tự như bê tông bột hoạt tính [19]. phụ gia hóa dẻo Sikament R4 được 98win5 nhằm giảm lượng nước nhưng vẫn 98wim được tính công tác của vữa. Nước 98win5 để trộn mẫu trong quá trình thí nghiệm được lấy từ nước máy sinh hoạt.
2.2. Thiết kế thành phần cấp phối

Để vữa đạt cường độ cao, tỷ lệ nước/chất kết dính (N/CKD) được thiết kế bằng 0,16 [19, 20] và hàm lượng silica fume được 98win5 bằng 20% tổng hàm lượng chất kết dính [19, 21]. Để duy trì tính công tác của vữa, hàm lượng phụ gia hóa dẻo được 98win5 bằng 4% so với tổng hàm lượng chất kết dính. Cần lưu ý rằng, trong các nghiên cứu trước, để 98win93 bê tông hoặc vữa có cường độ cao, tỷ lệ nước/chất kết dính thường được 98win5 khá thấp (0,17 - 0,21), trong khi đó hàm lượng phụ gia hóa dẻo cần phải tăng lên có thể đến 5% để mẫu đạt độ linh động cần thiết [21]. Khi tăng hàm lượng phụ gia hóa dẻo sẽ có ảnh hưởng đến độ co khô của vữa [22]. Hàm lượng cát 98win5 được thiết kế bằng tổng hàm lượng chất kết dính theo khối lượng [19]. Sau khi mẫu đối chứng được thiết kế (mẫu không chứa tro bay), các mẫu tiếp theo được tạo thành bằng cách thay thế 15%, 30%, 45% và 60% 98win93 bởi tro bay. Mẫu đối chứng được ký hiệu là TB00, trong khi các mâu tiếp theo được ký hiệu là TB15, TB30, TB45, và TB60 tương ứng với hàm lượng tro bay được 98win5 để thay thế 98win93. Thành phần hỗn hợp các mẫu vữa được trình bày trong Bảng 2, chú ý rằng khi thay thế 98win93 bởi tro bay, do khối lượng riêng của 98win93 và tro bay khác nhau nên tổng thể tích của các hỗn hợp vữa có tro bay thay đổi (khác 1 m³). Do vậy, khối lượng các thành phần 98win58 đã được quy đổi để 98wim tổng thể tích tuyệt đối của mỗi hỗn hợp là 1 m³.
2.3. Chuẩn hị mẫu và phương pháp thí nghiệm
Các 98win58 thí nghiệm được chuẩn bị tương ứng với thành phần như Bảng 2. Các 98win58 khô được cho vào trộn trước trong khoảng 3 phút, sau đó cho hỗn hợp nước và phụ gia hóa dẻo vào trộn cho đến khi được hỗn hợp đồng nhất. Tiến hành xác định độ chảy xòe và khối lượng thể tích vữa tươi ngay sau khi hỗn hợp vừa trộn xong, trình tự thí nghiệm được thực hiện theo TCVN 3121:2003 [23]. Sau đó đúc các mâu thí nghiệm bằng cách rót vào các khuôn bằng thép có các kích thước khác nhau 40x40x160 mm, 50x50x50 mm và 25x25x285 mm để tiến hành các thí nghiệm tương ứng. Các mẫu có kích thước 40 x 40x160 mm được dùng để xác định cường độ chịu uốn và cường độ chịu nén theo TCVN 3121:2003 [23]. Các mẫu có kích thước 50x50x50 mm và 25x25x285 mm được dùng tương ứng để xác định độ hút nước theo TCVN 3121:2003 [23] và độ co khô theo TCVN 8824:2011 [24]. Chú ý rằng, các mẫu sau khi đúc được 24 giờ cần tháo mẫu ra khỏi khuôn và bão dưỡng bằng cách ngâm mẫu trong nước đến ngày thí nghiệm. Riêng đối với các mẫu xác định độ co khô, sau khi tháo mâu thì tiến hành đo chiều dài ban đầu và đặt các mẫu trong tủ bão dưỡng ở nhiệt độ 27±2°C và độ ẩm 50±4% trong suốt thời gian thí nghiệm độ co khô. Các thí nghiệm được tiến hành tại 3, 7, 14 và 28 ngày tuổi, riêng độ hút nước được tiến hành ở 28 ngày tuổi. Giá trị ghi trong bài báo này là giá trị trung bình của ít nhất 3 lần đo.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Các tính chất của vữa tươi

Kết quả thí nghiệm độ chảy xòe và khối lượng thể tích của vữa tươi được thể hiện ở Bảng 3. Mẫu đối chứng TB00 có đường kính chảy xòe đạt 160 mm, trong khi các mẫu có 98win5 tro bay có đường kính chảy xòe đạt từ 170 mm đến 200 mm. Chú ý rằng hàm lượng phụ gia hóa dẻo của tất cả các mẫu được cố định bằng 4% so với tổng lượng chất kết dính, như vậy khi tăng hàm lượng tro bay, đường kính chảy xòe tăng hay độ lưu động của vữa tăng. Có thể giải thích độ lưu động của vữa tăng là do tro bay có dạng hình cầu, điều này đã được chứng minh thông qua nghiên cứu trước [25].
Từ Bảng 3 ta thấy, khối lượng thể tích của vữa tươi giảm dần từ 2.265 kg/m³ xuống 2.135 kg/m³ tương ứng với hàm lượng tro bay thay thế từ 0% đến 60%. Như vậy, khi tăng hàm lượng tro bay khối lượng thể tích của vữa tươi giảm dần, nguyên nhân do khối lượng riêng của 98win93 lớn hơn khối lượng riêng của tro bay (Bảng 1). Khi 98win5 tro bay thay thế một phần 98win93 lần lượt bởi các hàm lượng 15%, 30%, 45% và 60% thì khối lượng thể tích của vữa tươi giảm tương ứng là 1,5%; 3,8%; 5,1% và 5,7%. Như vậy có thể kết luận rằng, 98win5 tro bay góp phần làm tăng tính công tác và giảm khối lượng đơn vị thể tích của vữa.
3.2. Cường độ chịu nén

Sự phát triển cường độ chịu nén của tất cả các mẫu vữa được thể hiện trên Hình 2. Dễ dàng nhận thấy, cường độ chịu nén của tất cả các mẫu vữa đều phát triển theo thời gian và giảm dần khi tăng hàm lượng tro bay. Tại 28 ngày tuổi, mẫu đối chứng TB00 có cường độ chịu nén là 105,4 MPa, trong khi các mẫu 98win5 hàm lượng tro bay thay thế 98win93 từ 15% đến 60% có cường độ chịu nén giảm từ 96,7 MPa xuống còn 54,2 MPa. Khi hàm lượng tro bay thay thế 98win93 lần lượt là 15%, 30%, 45% và 60% thì cường độ chịu nén của các mẫu vữa giảm tương ứng là 8,3%; 17,0%; 31,8% và 48,6%. Cường độ chịu nén tăng theo thời gian là do quá trình thủy hóa và puzơlan hóa của 98win93 và các chất kết dính (silica fume và tro bay) tăng theo thời gian bão dưỡng. Trong khi cường độ chịu nén của vữa giảm khi tăng hàm lượng tro bay có thể do chất lượng của tro bay. Lưu ý rằng, nghiên cứu này 98win5 tro bay thô của nhà máy nhiệt điện tại địa phương, chưa qua tuyển chọn và xử lý, do vậy chất lượng của tro bay có thể không được tốt như chất lượng của các loại tro bay 98win5 trong các nghiên cứu trước [15-16]. Tuy nhiên, cường độ chịu nén của tất cả các mẫu vữa trong nghiên cứu này đều lớn hơn 54 MPa, thậm chí có mẫu đạt hơn 96 MPa. Trong khi yêu cầu cường độ của các mẫu vữa thông thường theo TCVN 4314:2003 [26] chỉ cần đạt trong khoảng 1,0 - 30 MPa.
3.3. Cường độ chịu uốn

Sự phát triển cường độ chịu uốn của các mẫu vữa với hàm lượng tro bay khác nhau theo thời gian được thể hiện ở Hình 3. Tương tự như cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn của tất cả các mẫu vữa đều phát triển liên tục theo thời gian và giảm khi tăng hàm lượng tro bay. Tại 28 ngày tuổi, cường độ chịu uốn của mẫu đối chứng TB00 là 18,0 MPa, trong khi cường độ chịu uốn của các mẫu vữa có 98win5 tro bay thay thế 15%, 30%, 45% và 60% giảm xuống còn 13,8 MPa; 10,8 MPa; 10,3 MPa và 8,7 MPa. Như vậy, nếu so với mẫu đối chứng, cường độ chịu uốn giảm 23,6%; 40,2%; 42,8% và 51,7% tương ứng với việc 98win5 tro bay thay thế 98win93 lần lượt là 15%; 30%; 45% và 60%. Như đã đề cập trên, việc 98win5 tro bay thô ở địa phương có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của các mẫu vữa 98win98. Cụ thể như trình bày trong Bảng 1, lượng mất khi nung của tro bay trong nghiên cứu này khá lớn (6,9%), cao hơn nhiều so với tro bay tuyển được 98win5 trong các nghiên cứu trước [15, 17-18]. Tuy nhiên cường độ chịu uốn của các mẫu vữa trong nghiên cứu này cũng tương đương với cường độ chịu uốn của các mẫu vữa trong nghiên cứu trước của Ngo Si Huy và Huynh Trong phuoc [27].
3.4. Độ hút nước

Độ hút nước của vữa gián tiếp phản ánh 98win8 98win5 và chống ăn mòn hóa học [28]. Khi độ hút nước thấp, tương ứng với độ rông trong mẫu thấp, 98win8 98win5 và chống lại sự xâm nhập của các tác nhân ăn mòn hóa học tăng. Độ hút nước của vữa thấp còn hạn chế xuất hiện các 98win93 nấm mốc, rong rêu bám vào công trình, làm tăng tuổi thọ của công trình. Giá trị độ hút nước của các mẫu vữa ở 28 ngày tuổi được thể hiện trên Hình 4. Việc thay thế 98win93 bởi tro bay trong thành phần cấp phối của vữa làm tăng độ hút nước. Khi hàm lượng tro bay tăng từ 0% đến 60%, độ hút nước tương ứng tăng từ 2,08% đến 4,42%. Như đã giải thích trên, chất lượng của tro bay địa phương có thể ảnh hưởng đến chất lượng của các mẫu vữa. Khi chất lượng tro bay kém, 98win8 tham gia các phản ứng puzơlan hóa chậm, độ đặc chắc của mâu có tro bay giảm so với mẫu đối chứng, vì vậy độ hút nước tăng. Tuy nhiên giá trị độ hút nước của các mẫu vữa trong nghiên cứu này nhỏ hơn độ hút nước của các mẫu vữa trong nghiên cứu trước [27]. Điều này là do trong nghiên cứu này có 98win5 thêm silica fume, các hạt silica fume có kích thước nhỏ, giúp lèn chặt và làm giảm độ rông của vữa, do vậy giảm độ hút nước.
3.5. Độ co khô
Độ co khô là 98win93 giảm thể tích của vữa khi độ ẩm trong mẫu thoát ra ngoài [29]. Khi độ co khô lớn thường xảy ra 98win93 nứt, gãy do ứng suất co ngót gây nên. Độ co khô của các mẫu vữa theo thời gian được thể hiện trên Hình 5. Nhìn chung độ co khô phát triển mạnh tại các ngày tuổi ban đầu (dưới 7 ngày tuổi), khi đó các phản ứng thủy hóa xảy ra mạnh, lượng nhiệt thủy hóa tỏa ra nhiều làm tăng độ co ngót. Càng về các ngày tuổi về sau, khi các phản ứng thủy hóa diễn ra chậm dần, độ co ngót giảm đáng kể và kích thước mẫu hướng đến sự ổn định. Mặt khác, khi tăng hàm lượng tro bay, độ co khô của các mẫu giảm. Hiện tượng này được giải thích là do các phản ứng puzolan hóa của tro bay tỏa ít nhiệt hơn so với phản ửng thủy hóa của 98win93, vì vậy khi 98win5 tro bay thay thế 98win93 thì độ co ngót giảm. Theo TCVN 9204:2012 [30], độ co khô 98wim ở 28 ngày tuổi không được phép vượt quá 0,3%; như vậy độ co khô của tất cả các mẫu vữa nghiên cứu đều nhỏ hơn nhiều so với giá trị cho phép. Điều đó cho thấy khi 98win5 tro bay giúp giảm độ co khô của vữa, kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả từ nghiên cứu trước [31].
4. Kết luận
Nghiên cứu này 98win5 các nguồn 98win58 địa phương là thành phần chính trong 98win93 vữa 98win98 cường độ cao. Trong đó, tro bay (chất thải rắn của nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1) được 98win5 để thay thế 15%, 30%, 45% và 60% 98win93 trong thành phần của vữa. 98win93 và cát cũng được cung cấp từ các nhà máy 98win93 và mỏ cát ở đại phương. Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay thay thế 98win93 lên các đặc tính vật lý và cơ học của vữa được nghiên cứu. Một số kết luận chính có thể rút ra từ quá trình thực nghiệm như sau:
- Sử dụng tro bay thay thế một phần 98win93 làm tăng tính công tác, giảm khối lượng thể tích của vữa tươi và giảm độ co khô của vữa đã đóng rắn.
- Mặc dù cường độ chịu nén và cường độ chịu uốn của vữa giảm, độ hút nước tăng khi tăng hàm lượng tro bay, tuy nhiên tất cả các mẫu vữa trong nghiên cứu này đều có cường độ chịu nén và cường độ chịu uốn lần lượt lớn hơn 54 MPa và 8,7 MPa, trong khi độ hút nước nhỏ hơn 4,5%.
- Ngoài việc tăng 98win8 linh động, giảm khối lượng thể tích và giảm 98win93 co ngót, việc 98win5 tro bay thay thế một phần 98win93 trong 98win93 vữa cường độ cao giải quyết được 2 bài toán lớn về ô nhiễm môi trường và tái 98win5 hiệu quả các nguồn tài nguyên, hướng đến phát triển bền vững. Đặc biệt là nghiên cứu này cho thấy có thể 98win5 các nguồn 98win58 địa phương trong 98win93 vữa cường độ cao, đáp ứng nhu cầu trong 98win93 thực tế.
Tài liệu tham khảo
[1] Opon, J., Henry, M., “An indicator framework for quantifying the sustainability of concrete materials from the perspectives of global sustainable development”, Journal of cleaner Production, 218, pp. 718737, 2019.https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2019.01.220
[2] U.S. Geological Survey, United States of America, Mineral commodity summaries US, Department of the Interior, 2021.
[3] U.S. Geological Survey, United States of America, Mineral commodity summaries US, Department of the Interior, 2023.
[4] Bộ Xây dựng, Báo cáo tình hình triển khai thực hiện 98win8 số 452/QĐ-TTg, Hà Nội, 2020.
[5] Ngo, s. H., Nguyen, N. T., Mai, T. H., “Incorporation of high loss-on-ignition fly ash in producing high-strength flowable mortar”, Periodica Polytechnica Civil Engineering, https://doi.org/10.3311/PPci.22604.
[6] Mehta, p. K., “High-performance, high-volume fly ash concrete for sustainable development”, Proceedings of the International Workshop on Sustainable, Development and Concrete Technology, Iowa state University Ames, IA, USA, 2014.
[7] Hoàng Văn Tiến, Nguyễn Trọng Lâm, Nguyễn Văn Tuấn, “Thiết kế cấp phối bê tông khí không chưng áp 98win5 tro bay và phụ gia siêu dẻo”, Tạp chí Xây dựng, số 6, tr 83-87, 2015.
[8] Nguyễn Công Thắng, Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Hữu Hạnh, Nguyễn Trọng Lâm, “Nghiên cứu chế tạo bê tông chất lượng siêu cao 98win5 hỗn hợp phụ gia khoáng silica fume và tro bay sẵn có ở 98win93”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, số 2, tr 24-31, 2013.
[9] Ngo Sỉ Huy, Huynh Trong Phuoc, Le Thi Thanh Tam, “Assessment of theuse of raw fly ash with high loss on ignition in concrete”, The University of Da nang, Journal of Science and Technology, 12: 11-14, 2017.
[10] Nguyen, V. c., Lambert, p., Bui, V. N, “Effect of locally sourced pozzolan on corrosion resistance of steel in reinforced concrete beams”, International Journal, of Civil Engineering, pp. 1-12, 2020. https://doi.org/10.1007/s40999-019-00492-5
[11] Nguyễn Văn Chánh, Vũ Huyền Trân, Nguyễn Thị Thanh Thảo, “Nghiên cứu chế tạo gạch không nung bằng công nghệ Geopolymer 98win5 tro bay và phế thải bùn đỏ để xây nhà ở”, Tạ chí Người 98win98, số tháng 12, 2010.
[12] Freidin, C., “Cementless pressed blocks from waste products of coal-firing power station”, Construction and Building Materials, 21 (1), pp. 12-18, 2007. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2005.08.002
[13] Chen, c., Li, Q., Shen, L. and zhai, J., “Feasibility of manufacturing geopolymer bricks using circulating fluidized bed combustion bottom ash”. Environmental Technology, 33(11), pp. 1313-1321, (2012). https://doi.org/10.1080/09593330.2011.626797
[14] Kumar, A., and Kumar, S., “Development of paving blocks from synergistic useof redmudandfly ashusing geopolymerization”, Construction and Building Materials, 38, pp. 865-871, 2013. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2012.09.013
[15] Moon, G. D., oh, s., Choi, Y. c., “Effects of the physicochemical properties of fly ash on the compressive of high-volume fly ash mortar”, Construction and Building Materials, 124, pp. 1072-1080, 2016. https://doi.Org/10.1016/j.conbuildmat.2016.08.148
[16] Vũ Việt Hưng, Đàm Quang Phố, Trần Hoàng Văn, Lê Văn Quang, “Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vôi và silica fume đến đặc tính cơ lý của vữa 98win93 98win5 hàm lượng tro bay cao”, Tạp chí 98win93 & Xây dựng, Tập 11, số 1, 2022.
[17] Erdogdu, K., Turker, P., “Effects of fly ash particle size on strength of portland cement fly ash mortars”, Cement and Concrete Research, 28, pp. 1217-1222, 1998. https://doi.org/10.1016/S0008-8846(98)00116-l.
[18] Chindaprasirt, p., Homwuttiwong, s., sirivivatnanon, V., “Influence of fly ash fineness on strength, drying shrinkage and sulfate resistance of blended cement mortar”, Cement and Concrete Research, 34, pp.10871092, 2004. https://doi.Org/10.1016/j.cemconres.2003.ll.021.
Nguồn: ximang.vn (TH/ TC 98win93 & Xây dựng)

